Posts mit dem Label văn hóa werden angezeigt. Alle Posts anzeigen
Posts mit dem Label văn hóa werden angezeigt. Alle Posts anzeigen

Montag, 5. März 2018

HÀN-QUỐC! Con rồng Á Châu.

Năm 2004, Việt-Nam cho chiếu bộ phim “Thời-đại ANH-HÙNG!” trong đó có đoạn Tổng-thống Park Chung-hee đã khóc, vì thấy dân khổ quá! 
Ông tuyên-bố sau 10 năm nữa, sẽ có nhiều nước trên thế-giới phải đến làm thuê cho Hàn-Quốc!!!
Thập niên 60, Hàn-Quốc là 1 trong những nước nghèo đói nhất châu Á! Năm 1968, người Hàn quyết-định thay-đổi GIÁO-DỤC bằng cách bê nguyên sách giáo-khoa của người Nhật về dịch sang tiếng Hàn để giảng dạy, ngoại trừ các môn xã-hội như địa-lý, lịch-sử và văn-học! Lúc đó cũng có nhiều người chỉ-trích rằng, Hàn-Quốc lẽ nào lại không tự soạn được một bộ sách giáo- khoa! Đây cũng bởi tính sĩ-diện của họ rất cao!!!

Nhưng chính-phủ vẫn quyết-tâm thực-hiện, vì để có được chương-trình giáo-dục đó, người Nhật đã mất cả trăm năm cải-biên cách đào-tạo của phương Tây sao cho phù-hợp với đặc trưng của châu Á, bắt đầu từ thời Minh-Trị Thiên-Hoàng. Để rút ngắn thời-gian, Hàn-Quốc chẳng có cách nào ngoài việc lấy kinh-nghiệm của người khác, và để dành thời-gian và công-sức lo việc khác nữa! Vì Hàn-Quốc muốn trở thành một bản sao mới của Nhật, nền kinh-tế dựa trên lòng tự-hào dân-tộc, tính kỷ-luật và đạo-đức của toàn thể xã-hội!

Đúng 20 năm sau, năm 1988, Hàn-Quốc tổ chức Olympic Seoul, cả thế-giới không ai tin vào mắt mình khi thấy kỳ-tích bên bờ sông Hàn. Ô-tô, xe máy, dệt nhuộm, hoá-chất, đóng tàu, điện-tử, bánh kẹo… bên Nhật có cái gì thì bên này có cái đó mặc dù dù dân-số chỉ bằng 1/3! Không ai biết trong 20 năm đó, cả dân-tộc Hàn đã nắm chặt tay với quyết-tâm thoát nghèo như thế nào? Chỉ biết rằng trên tivi lúc đó chỉ có vỏn-vẹn 2 chương-trình là “Dạy làm NGƯỜI” và “Dạy LÀM ĂN ”; từ cái văn-minh nhỏ xíu như nụ cười của một nhân-viên bán hàng cho đến cách quản-lý chi-phí của một quán cà-phê, cách tạo-dựng một nhà máy!!!

Từ một dân tộc “XIN VIỆC”, tức các doanh-nghiệp nước ngoài đến đặt nhà máy tại Hàn và thuê lao-động tại đây, Hàn-Quốc bắt đầu khan-hiếm lao-động và trở thành dân-tộc đi “CHO VIỆC”, mà người xếp hang “XIN VIỆC” lúc bấy giờ lại là người Trung-Quốc, Thai-Lan, Philippines. Hàn-Quốc đã thành-công trong việc tiếp nối Nhật-Bản thành dân-tộc đi “CHO VIỆC” người khác!
Năm 1988, pháo hoa thắp sáng 2 bờ sông Hàn, người Hàn-Quốc ôm nhau cười trong nước mắt, hơn 100 QUỐC-GIA GIẦU CÓ nhất trên thế-giới miễn visa cho họ! Hàn-Quốc giờ đây đã bước chân vào nhóm 24 QUỐC-GIA THỊNH-VƯƠNG nhất loài người! Nhưng thách-thức mới lại xuất- hiện, vì bây giờ không phải là Nhật-Bản nữa, mà là Hồng-Kông và Singapore, 2 cực hút nam châm của cả châu Á về tài-chính, thương-mại và giải-trí!!!

Bộ phim "NGÔI NHÀ HẠNH-PHÚC" được phủ sóng khắp Châu-Á và chinh-phục hàng triệu con tim!

Phim Hồng-Kông tràn ngập thị-trường và không có đối-thủ! Ngay lập tức người Hàn tuyển-chọn ra 2.000 sinh-viên ưu-tú nhất, cử sang Holywood, điên-cuồng học-hành, từ đạo-diễn, diễn-viên, phục trang dụng-cụ… 4 năm sau tốt-nghiệp, (năm 1992), những bộ phim đầu tay như: "Cảm-xúc, Mối tình đầu, Hoa cúc vàng..." Với một thế hệ diễn-viên đẹp đã chinh-phục được hàng triệu con tim!!!

Ngành làm phim đã phối-hợp khéo-léo với ngành thời-trang, mỹ-phẩm và hàng tiêu dùng để xâm-nhập vào các thị-trường! Đại-sứ quán Hàn-Quốc tại các nước có nhiệm-vụ dịch-thuật ra tiếng địa-phương và tặng không cho các đài truyền-hình, tạo ra làn sóng Hanluy nổi tiếng!!! Người Nhật điên-cuồng, người Trung-Quốc điên-đảo, các nước Đông-Nam Á thì chỉ biết ụ pa ơi, ụ pa hỡi. Phim Hồng-Kông bị đá văng ra khỏi thị-trường cho thuê băng đĩa!!!
Vào năm 1988, ngoài 2.000 người đi Holywood để xây-dựng kỷ-nghệ điện-ảnh, thì cũng có ngần ấy người được cử sang Milan và Paris để học thời-trang, mỹ-phẩm! Các tập-đoàn như xe Kia, Samsung, Hyundai còn thuê cả ê-kip thiết-kế của các hãng xe Đức như Mercedes, BMW làm việc cho họ, với tham-vọng xuất-khẩu xe sang Mỹ và châu Âu!!! Muốn bán cho Tây, thì bao bì nhãn mác phải có óc thẩm-mỹ của Tây, chứ kiểu “tròn tròn xinh xinh” của dân châu Á, người Tây không thích, không bán được! Có những năm mẫu xe của Hyundai bán chạy nhất ở Bắc Mỹ và châu Âu! Người Mỹ bắt đầu nhìn người Hàn với ánh mắt khác, ngưỡng-mộ, ngạc-nhiên và thích-thú!!!

Ngoài ra, người Hàn cũng cử những sinh-viên giỏi toán nhất nước theo học ngành tài-chính ở các trường đại-học lớn của Mỹ, với tham-vọng Seoul sẽ thành một London, New York! Các quỹ đầu-tư ra đời và họ tự tìm kiếm các nhà máy mới khởi-nghiệp be-bé để rót tiền vào, tham-gia vào quản-trị! Họ không chỉ-trích, chỉ góp sức góp trí để xây-dựng! Một người Hàn giàu có, là cả DÂN-TỘC Hàn giàu có!!!

Hệ-thống bán lẻ LOTTE phải có nghĩa-vụ mang hàng hoá Hàn đi khắp nơi! Ông lớn Samsung bắt đầu tuyển-dụng những sinh-viên giỏi nhất châu Á để cho học bổng thạc-sĩ miễn phí với điều-kiện tốt-nghiệp xong phải mấy năm phục-vụ cho họ! Họ gom trí-tuệ của cả châu Á để chinh-phục thị-trường điện-thoại thông-minh và máy tính bảng, cạnh-tranh đối-đầu với APPLE! đối-đầu với cả một tập-thể trí-tuệ thung-lũng Silicone, cứ như Airbus của châu Âu cạnh-tranh với Boeing vậy!!!

Người Hàn-Quốc, dù dân thường hay sếp lớn, mọi thứ họ dùng phải là “Made in Korea”, dù vào thập niên bảy mươi sản-phẩm vô cùng kém-cỏi và xấu-xí Nhưng nếu người tiêu-dùng không ủng-hộ sản-phẩm nhem-nhuốc của thời khởi-nghiệp, thì doanh-nghiệp còn tồn-tại đâu mà có sản-phẩm tinh-xảo sau này???

Tony nhớ lần đi Hàn đầu tiên, mùa thu năm 2005, bà chị ở Việt-Nam cẩn-thận ghi tên mấy nhãn hiệu mỹ-phẩm ưa-thích của chị ấy rồi nhắn mình mua giùm! Ở cửa hàng mỹ-phẩm, cô bán hàng mặc bộ váy veston đen, chạy như bay lấy hết sản-phẩm này đến sản phẩm khác cho Tony xem, đều là của Hàn cả!!! Do tiếng Anh không nói tốt, nên cô cứ giải-thích bằng tiếng Hàn đến lúc giọng khàn đặc! Đến lúc Tony lấy tay chỉ hộp phấn Lancom, thì cô thất-vọng oà khóc!!! Cô khóc, vì cô đã không thành-công khi TÌNH YÊU NƯỚC của cô không thuyết-phục được khách hàng! Tony nhìn cô ấy sung-sờ, lẽ nào chỉ là 1 cô gái bán hàng bình thường; mà có lòng YÊU ĐẤT NƯỚC mãnh-liệt thế sao? Tony thôi bèn mua mấy hộp mỹ-phẩm của Hàn, dù chẳng biết có tốt không? Vì kính-phục quá! Lúc Tony bước ra khỏi cửa hàng, ngoái lại vẫn thấy cổ gập đầu cung-kính!!!

Ngoài phố, gió bắt đầu lạnh, từng tốp học-sinh chạy tập thể-dục rầm-rập trên vỉa hè, những chiếc áo khoác thêu cờ quốc-gia ở sau lưng. Và Tony biết, sau lưng của mỗi công-dân luôn là TỔ-QUỐC!!!

Freitag, 22. Februar 2013

CÁI TÁT


Ngồi chờ đón Giao Thừa, đọc lại bài thơ của người xưa, bài thơ “Chúc Tết” của Cụ Trần Tế Xương, ngẫm lại chợt thấy con tạo xoay vần. Những câu thơ xưa nhưng giá trị hiện thực bây giờ dường như càng sáng tỏ.


Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu
Trăm nghìn vạn mớ để vào đâu…

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang
Đứa thì mua tước đứa mua quan...

Vua quan sĩ thứ người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người.

(Trích “Chúc tết” Trần tế Xương) 

“Sao được cho ra cái giống người”. Giờ thấy câu thơ như một cái tát của người xưa vào xã hội hiện nay. Không khí náo nhiệt, tấp nập háo hức chờ mong tết đến thường thấy của người Việt dường như trầm lắng hẳn.

Bao nhiêu khẩu hiệu giăng mắc đầy ngoài kia với chiến thắng này chiến thắng nọ đỏ rực cả đường phố không sao che đậy hết những lo lắng trầm tư của người lao động. Những lời hứa của các quan chức cứ dần theo gió bay đi, giá cả cứ ùn ùn đẩy những đồng xu cuối cùng ra khỏi túi áo trước khi những em bé nhận phong bao lì xì.

Những bao biện của chính phủ không còn tác dụng với người dân vì những nguyên nhân làm nghèo đất nước đã hiển hiện rõ ràng, minh bạch trước bàn dân thiên hạ, có điều, nỗi hãi sợ lúc nào cũng treo lơ lửng trên đầu cho những ai dại mồm dại miệng lên tiếng, cho những ai cố lôi cái sự thật mà ai đó muốn ém nhẹm che đậy. Tất cả khiến cho sự câm nín bấy lâu chực chờ nổ tung trong tâm trạng chán nản đến cùng cực.

Con số hàng triệu cho đến hiện nay đối với người dân các nước vẫn còn là một con số tự hào và đáng mơ ước, chỉ có ở Việt nam thì đến kẻ ăn mày cũng chửa coi nó ra gì, bây giờ có khoe mẽ với nhau thì phải nói đến trăm tỷ, ngàn tỷ, Còn cỡ triệu tỷ thì xin nhường cho các bác quả đấm thép của chính phủ tung đòn vào mặt nhân dân bằng khoản nợ kếch sù. Đáng thương thay, người lãnh hậu quả nặng nề nhất chính là hàng triệu những công dân bé nhỏ không được phép chào đời.

Người ta thường đưa lý do nghe qua rất ư là chính đáng là đẻ ra mà không nuôi nổi thì đẻ làm gì? Đói nghèo đã làm cho con số nạo phá thai tăng vùn vụt trong những năm qua, nhiều người đã tự hỏi tại sao tôi nghèo? Tại sao gia đình tôi nghèo? Nhưng mấy ai dám hỏi rằng vì sao đất nước tôi nghèo để người dân phải lầm than khổ sở? Để người dân phải xuống tay giết ngay cả con ruột để sinh tồn. Cái tát chưa thẳng tay để day tận mặt những lãnh đạo phải chịu trách nhiệm làm nghèo đất nước.

Chuyện xưa cụ Trần tế Xương vẫn còn bóng gió, hiện nay thì vẫn còn đó những đồng chí X, còn đó những nhóm Y nhóm Z nào đó xa xôi. Một tiếng nói can đảm của nghệ sĩ Kim Chi lại chìm vào những trang mạng luôn bị bức tường lửa bao vây, dòm ngó. Còn đại đa số mấy ai biết được những tiếng nói can đảm để giác ngộ, tất cả cùng sống trong bưng bít, sống trong những mụ mị dối trá. Ngóc đầu lên thế nào.

Tỷ lệ nạo phá thai tại Việt Nam hôm nay đã nhảy lên hàng đầu, con số đó đúng là một cú tát thẳng tay vào Lương Tâm bị làm cho dị dạng của con người, cú tát của Sự Thật. Nó đã nói lên tất cả về suy đồi lẽ sống trong xã hội mà nếu ai còn có chút tự trọng đều cảm thấy cú tát ấy đớn đau thế nào. Mà có phải chúng ta chỉ có cú tát ấy đâu, những cú tát vào lịch sử, những cú tát vào nhân phẩm, vào nhân quyền… ngày càng nảy lửa giữa quan với dân.

Hãy thôi trao nhau những cú tát chết người, hãy thôi trao nhau những dối trá và trả lại cho nhau quyền sống làm người. để mà “Sao được cho ra cái giống người”. Nhìn vào vua, nhìn vào quan. Vua hãy ra vua, quan hãy ra quan. Nhìn vào dân, dân sống ra dân. Mong sao cái sự chua chat mà cụ Trần Tế Xương nhắn nhủ cho hậu thế không còn tồn tại.

Đaminh PHAN VĂN DŨNG, 2.2013


Theo Ephata số 548

Năm mới thiền với cái loa


(tôi đã từng bị hệ thống loa truyền thanh công cộng hành hạ đến mức nhiều lần muốn phát điên. Tôi cũng từng ngồi viết về nó với lòng căm thù cao ngất nhưng đều bỏ dở vì không chuyển tải hết được những gì mình muốn nói. nay tạm mượn bài này để vợi bớt nỗi lòng.)

Trần Kiêm Đoàn
image
Đây thôn Liễu Hạ. Quê tôi bên cạnh sông Bồ.
Có những cặp loa truyền thanh công cộng làm việc bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông… Xuân. Sáng sớm từ 5 giờ sáng đến 6 giờ 30. Tối từ 5 giờ 30 đến 7 giờ tối. Hệ thống loa mới hiện đại không dây, âm thanh tuyệt hảo nghe rõ mồn một như xé tai nhét vào. Hai cái loa bắt ngay trên nóc cột điện phía trước nhà tôi ở xóm Kên. Mỗi lần phát thanh thì cả xóm không còn nghe tiếng gà kêu, chó sủa… Người trong nhà nói với nhau phải ra dấu bằng tay vì tiếng loa chan chát ở bên tai.
Có một thuở trên quê tôi cần đến cái loa vì trong làng chỉ có dăm ba nhà kha khá mới sắm nổi cái “đài” nghe riêng. Nhưng hôm nay đang có máy truyền hình, máy truyền thanh băng đĩa, mạng truyền thông internet… thế mà những cái loa công cộng vẫn sống mạnh, sống hùng như xe thời gian và trục địa cầu chưa hề chuyển bánh.
Cách 30 năm tôi mới về quê ăn Tết. Đang hưởng hạnh phúc nghe cháu nhỏ ríu rít chuyện quê mình thì thình lình tiếng loa ré lên như muốn bứt phá không gian tĩnh lặng của một làng quê bao quanh với những đồng lúa. Người làng tôi như chú Điền** thì gọi là “đài dói” – kêu không nghe thì phải dói – để làm mốc thời gian cho giờ hẹn: “Cháu sẽ gặp chú ở cổng làng để đi bộ thể dục khi ‘đài dói’ nghe.” Nghĩa là chúng tôi sẽ gặp nhau lúc 5 giờ sáng! Có một thuở, khi nghề nông đi vào hợp tác xã, người xã viên thức dậy cùng với tiếng loa đầu tiên để ra đồng làm việc. Người nông dân vất vả làm việc nhưng số lúa gạo được chia từng mùa vẫn không đủ ăn. Trên quê tôi, tình trạng thiếu ăn, đói miếng đã vượt qua nhờ giống lúa mới từ miền Nam ra, có sản lượng gấp ba bốn lần giống lúa cũ và phương thức canh tác nông trường tập thể kiểu Tàu đã được chuyển qua lối canh tác tư nhân. Nhưng cái biểu tượng “đài dói – đói dài” vẫn còn tại thế! Nhân loại xưa nay vẫn lao đao vì hai đối cực khủng hoảng: Khủng hoảng thừa và khủng hoảng thiếu. Khủng hoảng thiếu của âm thanh làm cho con người đối diện với hư vô; khủng hoảng thừa âm thanh cũng làm cho lòng người điên đảo.
Căn gác ngôi nhà thừa tự của chúng tôi đối diện với miệng loa mở rộng. Chiếc loa tròn vành vạnh với cục cồi ở giữa, trong bóng tối nửa vời trông như miệng thầy pháp đọc bùa chú trừ ma ếm quỷ. Những ngày đầu, tôi muốn điên lên vì sự khuấy động dai dẳng thành bức xúc. Tôi cố gắng bưng tai, rồi nhét bông vào tai. Nhưng được năm ba bữa thì tiếng loa như chui vào mũi, vào miệng mà phát ra. Sớm sớm, thú tiêu khiển của tôi là uống nước trà và ngồi định tâm từ khi trời chưa sáng. Và buổi chiều, thật là êm đềm và hạnh phúc khi được quây quần ăn cơm chiều cùng gia đình với những câu chuyện vui buồn trong ngày được tuổi trẻ và tuổi già kể cho nhau nghe trong tiếng cười dòn tan. Bây giờ tiếng loa giúp cho bữa ăn nhanh hơn vì mọi người chỉ có việc ăn với tiếng loa đầy mâm cơm, chẳng ai nói với nhau lời nào vì tiếng loa to hơn tiếng nói. Suốt bữa cơm gia đình, chỉ còn biết nói với nhau bằng mắt, bằng tay cho đến cuối bữa rồi buông đũa và ai lo việc nấy. Tôi được cái lợi là dù mưa hay nắng cũng bắt đầu vội vàng đi bộ trên những con đường làng và những cánh đồng vắng thoát ra ngoài âm hưởng của tiếng loa. Nhưng sớm và tối đi bộ đến 3 giờ đồng hồ ở tuổi về hưu thì chân khổ hơn tai. Đi được vài ba ngày thì chân sưng lên vì vận động quá mức bình thường. Thà để tai chịu trận vẫn dễ chịu hơn là khớp xương chân đau nhức.
Suốt hai tuần đi bộ siêng năng như chiếc loa phát hoài không mỏi nản. Tôi quyết định ngồi lỳ ở nhà. Trước thì chỉ ngồi định tâm nhưng bây giờ thì phải ngồi “thiền” thật sự. Ba ngày đầu, tôi muốn bỏ cuộc. Âm thanh có khi cũng nhồi lên, lượn xuống đánh vào bờ tai như đi thuyền nan gặp sóng lớn. Trong tôi, bắt đầu xuất hiện hai nhân vật: Động và Tĩnh từ một góc khuất nào đó lên tiếng.
Động nói:
- Thế nầy là quá lắm! Mỗi ngày chỉ có hai buổi sinh hoạt chính cho gia đình trong ngày mà đã mất 3 giờ nghe “đài dói” rồi thì ý nghĩa đời sống thường nhật thành ra lao đao và vô vị quá.
Tĩnh nói:
- Biển cả luôn luôn gầm thét mà hải đảo vẫn im lìm mới chung sống hòa hợp với nhau từ thuở khai thiên lập địa đến bây giờ; đó là cái lý của trời đất. Cảnh động làm tâm động theo; đó là cái lý của phàm nhân. Đài dói mà lòng ta vẫn tĩnh; đó là cái lý của hành giả.
Hm… không biết ông “hành giả” ấy là ai mà chảnh chọe đến thế. Ban đầu, tôi ghét cái anh Tĩnh. Tôi ước chi nắm được anh ta để sớm sớm, chiều chiều bắt ngồi trước mặt nhà tôi mà nghe loa cho bớt “chảnh”. Nhưng khổ nỗi, tôi càng cố tìm thì anh ta càng mất hút. Những lúc ngồi định tâm theo lối… thiền tọa, cái tâm niệm của tôi bị vướng vào cuộc truy đuổi không ngừng nghỉ về anh Tĩnh mà tôi cho là gàn bướng ấy khiến tôi lơi dần cuộc đối kháng thầm lặng giữa mình và cái loa huyên náo. Cái loa cứ phát ra rả, tôi càng lắng nghe rõ hơn lời anh Tĩnh. Tôi suy nghĩ về Như Lai – về Tathàgata – là bậc thấy rõ tường tận sự thật của vạn pháp nên không đến, không đi, không bị đời uế nhiễm. Tôi nhớ lời Lục Tổ “như thị, như thị”; thấy vậy là vậy, tự nhiên như nhiên. Tất cả đều vốn có như thế nên chẳng từ đâu đến và cũng chẳng đi về đâu. Cái loa là cái loa. Nó được làm ra để phát ra tiếng động. Như tôi sinh ra làm người, có hai tai để nghe, có cái miệng để nói. Ghét cái loa cũng như ghét khẩu súng. Khẩu súng đâu phải là kẻ sát nhân, cái đàn không phải là nhạc sĩ, lời kinh đâu phải sự giác ngộ mà tất cả chỉ là phương tiện lành hay dữ đưa đến bờ thiện, ác. Nhưng cứu cánh đã nằm sẵn trong phương tiện và ngược lại. Không thể nào dùng tâm độc ác để thành tựu yêu thương hay nói lời dối trá để làm người trung thực. Khẩu “xà” không bao giờ đến từ tâm “Phật” và đã là tâm “Phật’ thì không thể có khẩu “xà”!
Đêm Giao Thừa năm Quý Tỵ 2013 là một thời điểm thật khó khăn cho tôi. Cái loa mở hết tốc độ từ 5 giờ chiều đến quá Giao Thừa. Trước bàn thờ hương chong đèn rạng giữa thời khắc thiêng liêng nhất trong năm, tôi nghĩ mình khó lòng mà tập trung được tâm thành để nói lời khấn nguyện. Trong năm cảm xúc thuộc lý tính và cảm tính là tiếng động, mùi hương…vị, xúc, pháp thì tiếng “đài dói” đã lấy đi gần hết thảy. Âm thanh bùng lên giữa thời khắc cần lắng đọng sẽ làm uế nhiễm khả năng thẩm thấu mùi nhang trầm thanh thoát, vị ngọt ngào của quê hương, cảm giác êm đềm trong không gian quê mẹ và khung cảnh trầm lắng giữa phút Giao Thừa.
Rồi cũng đến giờ tiễn năm cũ mừng năm mới. Trong phút Giao Thừa tống cựu nghinh tân ấy, trước bàn thờ nghi ngút khói hương, tôi mặc áo dài khăn đóng, kính cẩn đánh một hồi chuông. Tuy tiếng chuông nhỏ như hơi thở khói sương trong âm thanh náo động của tiếng loa; nhưng thật lạ lùng, âm thanh nhỏ bé và sâu lắng đó đã nói lên một sự thật lặng im: Ta là ta, đến cũng là đi; tiếp cận với tất cả nhưng cũng chẳng hề dính mắc vào đâu cả. Tôi lắng mình dõi theo tiếng chuông Giao Thừa thanh thoát và quên đi tạp âm của tiếng loa, tiếng máy xe hay tiếng gọi bầy đàn của vạn vật đang mang mùa Xuân qua ngõ đời đầy vọng tưởng.
Đứng một mình trên sân thượng của ngôi nhà thừa tự, nhìn pháo hoa đón Năm Mới bừng lên rực rỡ trên bầu trời xứ Huế, tôi liên tưởng đến hỉnh ảnh tương tự trên bầu trời Cal-Expo của thành phố thủ phủ Sacramento, tiểu bang California – nơi tôi đã sống ba mươi năm – để cảm thấy thế giới nầy đang nhỏ lại. Nhỏ hay lớn chỉ là một khái niệm tương đối. Nhỏ lại như một Lỗ Đen; rồi một ngày nào đó sau tiếng nổ Big Bang sẽ sinh ra một vũ trụ vô biên. Quê tôi cách nơi tôi sinh sống mười bảy giờ bay, nhưng khi nhớ thương thì hai nơi thành một, nhưng khi chán ghét thì rất dễ trở thành “vô gia cư” trong chính căn nhà thừa tự của mình.
Sau Giao Thừa, tiếng loa im bặt. Có những âm thanh và dòng nước trôi đi không bao giờ trở lại và cũng chẳng còn ai nhớ, ai quên. Nhưng trong lòng tôi, dư âm của tiếng chuông vẫn còn ngân nga như lộc Xuân trên chậu mai vàng vừa hé nở cánh hoa đầu tiên.
Liễu Hạ thôn, một ngày đầu Xuân 2013
T.K.Đ
** Người công dân đã gởi thỉnh nguyện đề nghị chính quyền nên dẹp hệ thống loa truyền thông công cộng vì đã quá lỗi thời và xâm phạm quyền tự do riêng tư căn bản của con người.

Những địa danh mang tên 'Ông, Bà' ở Sàigon


BÀ : 

Đầu tiên được nói đến Bà Nghè, tên gọi hồi trước của con rạch Thị Nghè quận 1, sát bên Sở thú Sài Gòn. Trong Gia Định phú do Phan Văn Thị sáng tác có câu ví ngộ nghĩnh:
     Coi ngoài rạch Bà Nghè, dòng trắng hây hây tờ quyến trải,
     Ngó lên giồng Ông Tố, cây xanh nghịt nghịt, lá chàm rai.
Tôi chịu thua, tìm cả trong tự điển cây "chàm rai" là cây gì, mà lá nó xanh dữ vậy.
Nội ô Sài Gòn -còn có một bà cũng nổi tiếng đó làBà Chiểu, nằm trên địa bàn phường 1, 2 và 14 thuộc quận Bình Thạnh. Khu vực này có cái chợ cùng tên Bà Chiểu tấp nập ngày đêm, chủ yếu là bán lẻ. Có câu ca dao, nghe cũng vui tai:
     Xe mui chiều thả chung quanh
     Đôi vòng Bà Chiểu thích tình dạo chơi.
Có lẽ nổi tiếng nhất trong các bà là Bà Điểm. Tương truyền bà Điểm là một chủ quán nước chè vùng Tân Thới Nhứt, Hóc Môn, có 18 thôn vườn trầu; nơi đây Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định từng hoạt động (khoảng năm 1861).
Nói cho ngay, người Sài Gòn xưa hay đặt cho con rạch, chiếc cầu, một địa danh, một con đường, con hẻm một cái tên (hoặc bà hoặc ông) trước là dễ nhớ, sau là ghi lại công tích của người đó góp cho dân trong vùng; thứ nữa nhìn hình vóc của khu vực đó mà đặt.
Thí dụ: Bà Quẹo, là khu vực gồm các phường 13, 14 quận Tân Bình.
Ai đi trên đường Cách mạng Tháng Tám nối liền đường Trường-Chinh lên Tây Ninh (ghi chú: đây là tên tội đồ giết dân thời Cải cách ruộng đất, nay được Việt công ghi công đặt tên đường), vọt thẳng biên giới với Cam-pu-chia, có một ngã ba, nếu nhà ở hướng lộ 14 thì quẹo trái (rẽ) vào.
Hay Bà Đô, là con rạch ở phường 1, quận 5, thông từ các ao, đầm ra rạch Bến Nghé, nay bị lấp rồi.Bà Đô còn là tên chiếc cầu ở đầu đường Hàm Tử bắc qua rạch Bà Đô (còn gọi là Thị Đô). Dân chèo ghe ở Sài Gòn hồi trước, qua đây hay hát:
     Kể từ chợ Sỏi trở vô
     Xóm Lá là chợ, Thị Đô là cầu.
Hay như Bà Thuông, tên chiếc cầu trên kênh Tàu Hũ, từ đầu đường Tản Đà đến đầu đường Phú Định. Trong Gia Định phú có câu ví rất hay:
     Giếng Bà Nhuận rạch cam tuyền, trai gái nhảy thỏa tình khát vọng
     Cầu Bà Thuông đường quan lộ gần xa đều phỉ chí quy lai.
Tên cầu, tên rạch, tên khu vực nào đó có từ Bà rất nhiều. 
Như: rạch Bà Bướm có tên từ 1902 ở phường Tân Thuận Đông, quận 7 chảy vào sông Sài Gòn, nay nằm trong khu chế xuất Tân Thuận
Sông Bà Cả Bảy chảy qua hai xã Trung Lập Thượng và Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi dài 15 km từ ranh giới với Tây Ninh đến sông Láng Thé.
Bà Hom vừa là khu vực phường 13, 14, quận 6 giáp ranh với Tân Bình và Bình Chánh, vừa là chiếc kênh ở xã Tân Tạo.
Bà Tàng, vừa là các rạch ở phường 7, quận 8, cũng là tên chiếc cầu bắc qua rạch Lào trên đường Phạm Thế Hiển. Rồi [B]Bà Tà, Bà Lài, Bà Hồng, Bà Lát, Bà Nghiêm, Bà Chủ, Bà Tàng, Bà Thiên, Bà Tiếng, Bà Xếp... cũng là cầu, là rạch, là tên riêng vùng đất.
Như tên Bà Khắc là chiếc cầu xưa ở vùng Cầu Kho quận 1. Khắc trong tiếng Nam Bộ còn gọi là Khấc, để cầu khỏi trơn trợt.
Trong bài Cổ Gia Định phong cảnh vịnh có câu:
     Trên cây Da Còm, nỡ để ông già gùi đội
     Dưới đường Cầu Khắc, chi cho con trẻ lạc loài.
Chiếc cầu Bà Khắc (hay Khấc) này thời nay không còn nữa.
Nhiều tên đường cũng tên bà, như đường Bà Huyện Thanh Quan trên địa bàn phường 6, 7, 9 quận 3, hồi Pháp có tên là Rue Nouvelle, đến năm 1920 đổi thành Pierre Fladin. Năm 1955 mới có tên Bà Huyện Thanh Quan đến ngày nay.
Bà Ký là đường trên địa bàn phường 9, quận 6. 
Bà Lài là đường nối từ đường Phạm Văn Chí với Lò Gốm, nay tên đường mới là Đặng Thái Thân. 
Bà Lê Chân ở Tân Định. Năm 1906 có tên là Frostin. Đến 19-10-1955 đổi lại thành đường Bà Lê Chân. 
Bà Triệu nằm sau Bệnh viện Chợ Rẫy, thời Pháp có tên là Merlande. Năm 1955 mới đổi thành Bà Triệu..
Chắc là còn nhiều "bà" nữa mà người viết chưa có vinh hạnh làm quen, xin mọi người tìm thêm nữa.
Cũng lạ, khi đặt tên cho cái rạch, con sông, chiếc cầu, hay địa danh một vùng đất gắn với một bà nào đó, thì có cả ca dao, câu hát, câu ví dí dỏm
Nhưng, với cánh đàn ông thì thiệt là khô khan, chả thơ phú, câu vè, câu đố nào. Dù sao, có bà thì phải có ông, bởi thiếu ông nghe như trống trải trong lòng vậy.

ÔNG

Ở Sài Gòn - thành phố Saigon, địa danh mang tên năm ông sau đây, cứ nhắc tới thì cả nam, phụ, lão, ấu ai cũng rành.
Đầu sổ là Ông Lãnh. Gắn liền với Ông Lãnh là chiếc cầu Dạ, Cầu Ông Lãnh, rồi chợ Cầu Ông Lãnh, và phường Cầu Ông Lãnh (Nói nhỏ: chỗ này hồi trước bụi đời dữ lắm nghen, nay thì đỡ nhiều rồi).
Đúng là có cầu, có chợ, có phường 100%, nhưng thử hỏi cắc cớ: vậy Ông Lãnh là ai vậy, thưa bà con, thì nghe chừng ngắc ngứ lắm!
Có giả thuyết cầu này do ông Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng (1798 - 1866) đóng quân ở đồn Cây Mai, Thủ Thiêm và tại đình Nhơn Hòa, quận 1. 
Vả lại, năm 1885, Cụ Pétrus Trương Vĩnh Ký có viết rằng, chiếc cầu gỗ do ông lãnh binh ở gần đó cho bắc qua, chắc là ông Lãnh binh Thăng này, chớ không phải ai khác.
Cũng có người bảo, cầu này ở cạnh một ông lãnh sự, nên đặt chết tên luôn. Nghe chừng chuyện này không thuyết phục mấy.
Hai là Ông Thượng. Người Sài Gòn trọng tuổi một chút nghe đến vườn Ông Thượng thì biết ngay là Công viên văn hóa Tao Đàn thuộc quận 1 bây giờ.Chớ hỏi bọn trẻ, chưa chắc hiểu vườn Ông Thượng ở đâu. Vả lại, Ông Thượng là tên dân gian gọi tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt những thập niên 20 và 30 của thế kỷ 19.
Nghe nói, vườn Ông Thượng hồi đó hay có gánh hát đến biểu diễn, cả cải lương lẫn hát bội, và Nguyễn Đình Chiểu hồi nhỏ cũng hay đến đây coi tuồng hát bội.
Ba là Ông Tố. Giồng Ông Tố là vùng đất thuộc quận 2, hồi năm nẳm, ở vùng này còn nhiều cọp beo và nhiều ve lắm, nên có câu:
     Coi cọp, xuống Thị Nghè
     Ăn ve, lên Ông Tố.
Ve mà nướng lên ăn cũng thơm như cào cào, châu chấu vậy. Không rõ ông Trương Vĩnh Tố có làm quan chức gì, chỉ biết ông ở gần đấy và khu đất cao (gọi là giồng) có lẽ là của ông chăng?
Bốn là Ông Tạ. Là chợ mang tên một thầy thuốc nam nổi tiếng Trần Văn Bỉ (còn gọi là Tạ Thủ).... Còn một Ông Tạ nửa ở Thủ Đức gọi là Tạ Công Tử, chuyên đưa người sang sông đi chùa ở Quận 9,không lấy tiền...
Chợ Ông Tạ còn là vùng đất thuộc các phường 3, 4, 5, 7 của quận Tân Bình.
Nói thêm: Dân ghiền thịt chó nghe đến chợ Ông Tạ là gợi ngay đến các hàng thịt chó nằm trên đường Cách mạng Tháng Tám treo lủng lẳng cả chục con thui vàng rực, coi bắt mắt lắm.
Năm là Ông Thìn. Cầu Ông Thìn bắc qua sông Cần Giuộc, nối hai xã Đa Phước và Quy Đức, huyện Bình Chánh trên tỉnh lộ 50. Dân gian truyền rằng, Ông Thìn là tên người lái đò đưa khách sang sông
Cầu Ông Thìn được bắc dã chiến năm 1925, nay đã nâng thành cầu đúc dài 162 m.
Có cái tên ông rất nổi tiếng ở Sài Gòn này. Đó làLăng Ông (dân thường gọi là Lăng Ông Bà Chiểu).
Đây là lăng của Tả quân Lê Văn Duyệt, được xây trên khuôn viên khá rộng 18.500 m2. 
Nghe rằng tác giả công trình này về sau xây lăng Tự Đức ở Huế.
Ngày 16-11-1988, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận Lăng Ông là di tích kiến trúc nghệ thuật. Ở lăng có bốn cột gỗ chạm rồng rất đẹp ở chánh điện. Cổng tam quan có cây thốt nốt tạo vẻ trang nghiêm, tĩnh mịch.
Ở Sài Gòn, còn có Chùa Ông là chùa thờ Quan Công (Quan Vân Trường) tại xã Thạnh Mỹ Lợi, Thủ Đức.
Tên đường chỉ duy nhất có Ông ích Khiêm. 
Gắn với tên ông còn có rạch, cầu Ông Buông ở quận 6 (dài độ 2.800 m từ ngã ba rạch bến Trâu và Tân Hóa tới rạch Lò Gốm); rạch Ông Cái ở quận 2, rạch Ông Cốm, Ông Đồ ở Tân Túc, Bình Chánh; rạch Ông Điền từ đất Cần Giuộc đổ vào sông Nhà Bè, rạch Ông Đội ở quận 7, rạch Ông Mưu ở Bình Chánh; rạch Ông Nghĩa ở xã An Thới Đông, Cần Giờ từ rừng lá đến sông Lòng Tàu.
 cầu Ông Lớn bắc qua kinh Tàu Hũ; cầu Ông Nhiêu, cầu Ông Thìn, cầu Ông Tiều...
Rồi đập Ông Hiền ở xã Bình Hưng dài đến ba cây số.
Quả tình, gắn với tên ông thì còn nhiều lắm, nhưng xin tạm dừng ở đây./.



Saigon - Vue aérienne - l'Arroyo de l'Avalanche, Jardin Botanique et rivière
Rạch Avalanche, tức rạch Thị Nghè, chỗ cây rậm rạp bên phải là Vườn bách thảo (sở thú), và phía xa là sông SG

SAIGON VU DU CIEL - Le faubourg de PHU NHUAN
The suburb of Phu Nhuan - Vùng ven Phú Nhuận. Trong ảnh là rạch Thị Nghè với cầu Kiệu, phía bên phải cầu là đường Hai Bà Trưng, phía bên trái hiện nay là đường Phan Đình Phùng.
Chợ Bà Chiểu (1968)

Cau-Ong-Lanh_Pont
Cầu Ông Lãnh bắc qua rạch Bến Nghé nối Q1 với Q4. Một đầu cầu nối vào đường Nguyễn Thái Học bên Q1, đầu kia nối vào nhánh rẽ vuông góc để vào đường Bến Vân Đồn.

Cầu Thị Nghè qua sở Thú.

Donnerstag, 21. Februar 2013

CÁN CÂN TÌNH YÊU



Một linh mục thuộc giáo phận New York bên Hoa Kỳ chuyên lo mục vụ cho các tù nhân đã kể lại kinh nghiệm như sau:
Một hôm, ngài được mời đến thăm một thanh niên da đen sắp sửa bị đưa lên ghế điện vì đã giết người bạn gái của mình. Như thường lệ, mỗi khi gặp một tử tội sắp bị hành quyết, vị linh mục thường khuyên nhủ, giải tội và trao ban Mình Thánh Chúa.
Sau khi đã lãnh nhận các bí tích cuối cùng, người thanh niên da đen bỗng trầm ngâm suy nghĩ như muốn nói lên một điều gì rất quan trọng. Cuối cùng, với tất cả cố gắng của một người biết mình sắp lìa cõi đời này, anh mới thốt lên với tất cả chân thành:
- Thưa cha, con đã làm hư hỏng cả cuộc đời. Con chưa hề học được một điều gì hữu ích ngoài một điều duy nhất đó là đánh giày. Xin cha cho con được phép đánh bóng đôi giày của cha. Như thế, con sẽ hài lòng vì nhận được sự tha thứ của Chúa, bởi vì con không biết làm gì để tạ ơn Chúa trước khi con gặp lại người bạn gái của con trên thiên đàng
Và không đợi cho vị linh mục trả lời, người thanh niên đã cúi gập người xuống và bắt đầu đánh bóng đôi giày của vị linh mục... Cử chỉ ấy khiến cho vị linh mục nhớ lại hình ảnh của người đàn bà đã quỳ gối bên chân Chúa Giêsu, đổ dầu thơm trên đầu, trên chân của Ngài và dùng tóc của bà để lau chân Ngài. Chúa Giêsu đã nói với bà: “Tội của con dù có nhiều đến đâu cũng được tha, bởi vì con đã yêu nhiều”.
♦♦♦
Sám hối, ăn chay, đền tội, đó là những khẩu lệnh mà mỗi người chúng ta đều nghe lặp đi lặp lại trong suốt Mùa Chay này. Theo quan niệm công bình và thưởng phạt của chúng ta, kẻ có tội ắt phải đền tội. Toà án của loài người thường cân lường tội trạng của người có tội để tìm ra một hình phạt cân xứng.
Chúng ta không thể áp dụng một thứ cán cân như thế vào trong mối tương quan giữa tội lỗi của chúng ta với sự công bình của Thiên Chúa. Nơi Thiên Chúa chỉ có một trái tim duy nhất: đó là lòng nhân từ. Thiên Chúa yêu thương chúng ta và tha thứ tất cả tội lỗi của chúng ta bằng lòng nhân từ vô biên của Ngài.
Do đó, khi nói đến ăn chay đền tội, chúng ta không thể cân lường tội lỗi của chúng ta để rồi tìm ra một lượng đền tội cho cân xứng. Có hy sinh nào tương xứng được với tội trạng của chúng ta? Có án phạt nào cân xứng với sự xúc phạm của chúng ta?
Thiên Chúa không chờ đợi nơi chúng ta điều gì khác hơn bằng chính tình yêu của chúng ta. Với tình yêu, thì dù một cử chỉ nhỏ mọn cũng trở thành một lễ dâng đẹp lòng Chúa. Những gì chúng ta dâng lên Chúa, không phải là của cải chúng ta có, những bố thí chúng ta làm cho người khác, những khổ chế chúng ta tự áp đặt cho bản thân... mà chính là lòng yêu mến của chúng ta.
“Tội của con dù có nhiều đến đâu cũng được tha, bởi vì con đã yêu nhiều”.
Ước gì lời của Chúa Giêsu nói với người đàn bà tội lỗi cũng là lời ngọt ngào mà chúng ta tiếp nhận trong suốt Mùa Chay này.
♦♦♦
Lạy Chúa, Chúa nhân từ đối với ai khiêm tốn, và tha thứ cho kẻ biết hối cải ăn năn. Xin soi sáng cho mỗi người chúng con biết ăn năn hối cải và tăng cường việc bác ái yêu thương, hầu chế ngự mọi tính mê tật xấu. Nhờ đó, chúng con được sạch tội, và thêm lòng sốt sắng thông phần cuộc khổ nạn của Đức Kitô, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen!
Tác giả Lm. LG. Huỳnh Phước Lâm
Nguồn : Mạng Lưới Dũng Lạc.org

Montag, 18. Februar 2013

MỘT THOÁNG CAMBODIA (1)

Đúng 22 năm mình trở lại Cambodia, một đất nước có một lịch sử và văn hóa bi hùng và phế tích với một dân tộc hiền hòa đến mông muội và là một cựu Đế chế hùng cường, nằm trong số 10 Đế chế lớn nhất trong lịch sử của nhân loại.

Bi kịch và số phận đã đẩy đưa Cambodia - một trong 3 quốc gia thành viên thuộc địa Đông Dương của Pháp: Việt Nam, Lào và Cambodia - đã trở thành quốc gia duy nhất có nền chính trị Quân chủ lập hiến. Có nghĩa là, ở đây hình thái chính trị lại giống với Vương quốc Anh, mà không giống với nền chính trị Cộng Hòa của cựu mẫu quốc Pháp.

Quân chủ lập hiến là một nền chính trị mà ở đó, gia đình hoàng tộc không tham gia vào chính trị. Họ chỉ là biểu tượng của đất nước dùng để làm công việc lễ tân cho cả nội vụ và ngoại giao khi chính phủ cần. Chính phủ là tổ chức điều hành chính của quốc gia, đứng đầu là thủ tướng, dựa trên một nền chính trị đa nguyên tranh cử của nhiều đảng phái khác nhau, với tam quyền phân lập. Ai đã từng đến Cambodia cách đây 20 năm sẽ thấy đất nước bi hùng này thay da đổi thịt rất nhiều đến ngỡ ngàng.

Từ chỉ còn khoảng 1,3 triệu dân sau cuộc tàn sát của đảng cộng sản Khmer Đỏ vào giữa cuối thập niên 1970s của thế kỷ trước, ngày nay dân số Cambodia đã đạt con số khoảng 15 triệu với 30% là Hoa kiều, 20% là Việt kiều và 50% còn lại là người Khmer và các dân tộc khác. Đảng cộng sản Khmer Đỏ đã giết hầu hết tầng lớp tinh hoa và giới nhà giàu của dân tộc Khmer. Hầu hết người dân Khmer chính gốc là tầng lớp nhân dân lao động, hiền lành, chất phát như đất. Nền kinh tế của Cambodia phồn thịnh hiện nay hầu như nằm trong số 50% Hoa kiều và Việt kiều đang sinh sống trên đất nước Cambodia. Có lẽ, chính điều này sẽ là một tín hiệu không lành cho dân tộc Khmer trong vài thế kỷ tới.

Người ta thấy rằng, ở đâu mà các chính khách sử dụng thần quyền đến tột đỉnh của nghệ thuật chính trị - là nghệ thuật của sự có thể - thì ở đấy người dân rất dễ sai bảo, và bạo chúa có thể làm nên những kỳ tích để đời cho nhân loại, hoặc chính khách cũng có thể xúi giục dân chúng tắm máu vì ngai vàng của họ. Cambodia là một quốc gia có một tầng lớp chính khách và nhân dân như thế. Angkor Vat và Angkor Thum là 2 phế tích còn sót lại của một đế chế kiêu hùng làm minh chứng cho điều này. Công cuộc diệt chủng của đảng cộng sản Khmer Đỏ cũng là một minh chứng hùng hồn đối với dân tộc Khmer.

Văn hóa đặc thù của Cambodia là văn hóa của chùa chiền. Một đất nước mà ngày nay chỉ vỏn vẹn khoảng 15 triệu dân, nhưng có hơn 5000 ngôi chùa hoành tráng và to lớn. Sự giao thoa giữa thần quyền Phật giáo và thế quyền phong kiến đã tạo ra ở đất nước này một chế độ tăng lữ quý tộc trong giáo dục và định hướng dân chúng trong việc điều hành đất nước, biến đất nước này còn một cái tên gọi là, đất nước Chùa Tháp. Cho nên chùa cũng là nơi mà bất kỳ một nam thanh niên nào cũng phải vào đó để học làm người lương thiện thì mới được trở thành người có giá trị của xã hội. Không có tấm bằng Phật học, thì nam thanh niên khó lòng thành công khi bước vào đời.

Ngoài ra, ở Cambodia còn tồn tại hình thái xã hội Mẫu hệ từ thời loài người còn ăn lông ở lổ và săn bắt hái lượm. Nam thanh niên lớn lên chưa từng đi tu ở chùa để học đạo ít nhất là 6 tháng đến 3 năm, để có tấm bằng Phật học, thì khó hy vọng để lấy được vợ. Ở Cambodia, con gái đi cưới chồng, con trai đi lấy vợ và ở rể. Con cái sinh ra, không mang theo họ cha hoặc mẹ, mà cái tên của con cái là ghép thành từ tên cha và tên mẹ. Cho nên cái dòng họ không có ý nghĩa trong việc duy trì chủng tộc và dòng tộc. Đó cũng là một nét văn hóa đặc thù góp phần cho một đế chế lừng lẫy phải điêu tàn như hôm nay.

Đất nước chùa Tháp còn là đất nước của Rắn. Đi bất cứ nơi đâu, biểu tượng rắn cũng được điêu khắc và đúc tượng. Đây là tàn tích của thần quyền Bà La Môn ngày đầu du nhập vào Cambodia. Hồ Tonle Sap - biển Hồ - là một túi chứa nước ngọt rộng lớn nhất thế giới làm nhiệm vụ điều tiết nước cho dòng Mekong có nguồn từ cao nguyên Tây Tạng. Quanh biển Hồ là rừng cây Lộc Vừng bạc ngàn, nếu ở Việt Nam dân tình sẽ biến rừng cây này thành bãi hoang vì trò phong thủy và mê tín dị đoan. Nhưng ở Cambodia, rừng cây Lộc Vừng không có ý nghĩa, mà ý nghĩa của nó là tất cả các loài rắn sống ở rừng này. Mùa nước nổi từ tháng 3 đến tháng 10 âm lịch rừng này ngập nước, và rắn sẽ trèo lên đọt cây để tránh lũ. Lúc đó, người dân Cambodia dùng thuyền để đi săn rắn về bán cho các nhà hàng và các xưởng làm thức ăn khô, nên giá khô rắn ở Cambodia rẻ hơn giá thịt bò. Rắn nuôi một phần đời sống nông dân Cambodia, nên rắn được đạo Bà La Môn đặt làm biểu tượng của họ ở đất nước Chùa Tháp.

Rừng lộc vừng quanh biển Hồ Tonle sap và cột đánh dấu mốc nước lũ theo cấp độ nước dâng lên trong mùa nước nổi.

Cambodia là một đồng bằng thấp, mùa nước nổi từ biển Hồ Tonle Sap đổ về cũng là mùa dân Khmer làm ruộng. Hệ thống thủy lợi ở đây còn rất kém phát triển một phần vì hơn 98% diện tích Cambodia là đồng bằng màu mỡ. Đất thịt bazan và phù sa từ biển Hồ đem lại cho đồng bằng ở đây làm ruộng trồng cây mà không cần phân bón. Người Khmer được thiên nhiên ưu đãi như người dân miền Tây Nam bộ nước Việt, nên ở đây lúa chỉ làm một mùa nước nổi, và lúa ở đây là loại lúa nước, rãi trên đồng nước lên bao nhiêu thì lúa cao lên bấy nhiêu, khi lúa chín cũng là lúc mùa nước rút - khoảng 6 tháng - và dân chỉ việc ra đồng cắt ngọn lúa có hạt mang về. Đó cũng chính là cái mà làm cho chính phủ Cambodia không quan tâm đến việc làm hệ thống thủy lợi để tăng canh, tăng vụ. Hơn nữa dân số chưa đông, áp lực an ninh lương thực chưa đòi hỏi và dân tình không chỉ sống bằng nghề làm lúa, mà còn có những cái khác để mưu sinh.

Cây thốt nốt có tuổi đời đến cả trăm năm được dân Khmer làm hàng rào

Văn hóa Cambodia cũng gắn liền với cây Thốt Nốt. Vua Jayavarman đệ nhị - người khởi đầu tạo dựng đế chế Khmer - là người đưa ra việc trồng cây thốt nốt để ghi lại ranh giới đế chế Khmer và cũng là ranh giới cho những mãnh ruộng vườn của mỗi gia đình đã khai hoang và làm ăn. Nên cây thốt nốt cũng là biểu tượng của đất nước Chùa Tháp ngoài chức năng là một loại cây công nghiệp ẩm thực làm ra đường, rượu và nước uống giải khát ở vùng đất đầy nắng này. Nếu ai để ý, cây thốt nốt ở Cambodia luôn trồng ở các hàng rào của căn nhà ở và ở các bờ đất phân ranh giới giữa các thửa ruộng với nhau. Cho nên người Cambodia vẫn còn truyền miệng nhau rằng, ở đâu có cây thốt nốt thì ở đó là đất của người Khmer một thời lừng lẫy.

BS.Hồ Hải

MỘT THOÁNG CAMBODIA (2)


Đế chế Khmer hay còn gọi là Đế quốc Khmer bắt đầu từ vị vua Jayavarman đệ nhị. Ông là một hoàng tử của đảo Java thuộc Indonesia ngày nay. Giống như thời kỳ nước Việt sử dụng Ngọc Hân Công chúa gả cho Chế Bồng Nga nước Champa. Ông Jayavarman đệ nhị cũng là một con tin chính trị được làm rể cho nước Chân Lạp. Ông mang văn hóa Java truyền bá và đánh chiếm các vị vua lâng bang vùng Đông Nam Á, và lập nên một diện tích bằng đất nước Cambodia hiện nay. Bắt đầu xây dựng đế chế Khmer từ 790 sau Công nguyên, đến năm 802 ông tuyên bố mình là Vua thiên hạ - Chakravartin - theo phương cách Ấn Độ giáo. Các đời vua sau đó đánh chiếm và tạo ra một Đế chế Khmer rộng lớn nhất khu vực Đông Nam Á với hơn 1 triệu cây số vuông, kéo dài 630 năm cai trị và suy tàn rồi tan rã vào năm 1432. Đế chế Khmer lúc cường thịnh bao gồm, Lào, Thái Lan, miền Nam Việt Nam và Cambodia bây giờ.

Bản đồ Đế chế Khmer lúc cường thịnh vào đời vua Jayavarman VII


Vì có nguồn gốc từ xứ sở ngàn đảo nên văn hóa và tôn giáo thời kỳ đầu của Chân Lạp nói riêng và đế chế Khmer sau này nói chung là Bà La Môn giáo, thờ linh vật là chủ yếu đi đôi với kiến trúc Tháp Champa, và ăn cơm bằng nhúm bàn tay bốc chứ không ăn đủa như bây giờ của hầu hết dân Khmer. Đến đời vua Jayavarman đệ Thất ảnh hưởng Phật giáo Nam tông - tiểu thừa - từ Ấn Độ và các nước lâng bang, Phật giáo được nhà vua đẩy lên thành quốc giáo để phủ dụ dân chúng dễ bề cai trị. Từ đó, mỗi nam thanh niên Khmer muốn thành người trọng dụng phải tốt nghiệp trường Phật học ở các chùa trong cả nước. Ngay các chính khách ngày này như Polpot hay Hunxen đều đã từng là các học viên tại các chùa lớn ở Phnompenh.


Tàng tích dân tộc Champa ở Cambodia ngày nay nằm dọc theo sông Mekong rải rác từ tỉnh Kongpong Cham qua Kongpong Thom đến Phnompenh. Hầu hết người Champa sống bằng nghề đánh bắt cá và làm mắm Bò hóc - prahoc hay pro hoc theo phiên ngữ tiếng Khmer - một loại mắm làm bằng cá nước ngọt rất công phu và ngon, chứ không thối như mắm bò hóc mà người ta vẫn thường hay kể. Tỷ lệ dân Champa ở Cambodia không nhiều chiếm khoảng 3% dân số. Một dân tộc đang tàn lụi và phải đi sống nhờ ở đậu xứ người để tồn tại cũng vì quá hiền lành và chất phát. Ở đâu có người Champa thì ở đó đạo Hồi và Bà La Môn vẫn hiện diện qua kiến trúc và văn hóa sống.


Dấu tích kiến trúc Champa trên đồi Bà Then


Nhà nước quân chủ lập hiến Cambodia hiện nay có một chính phủ điều hành dưới quyền của thủ tướng suốt 20 năm qua. Năm nay sẽ là năm tranh cử nhiệm kỳ thứ 5 của ông Hunxen sau 4 nhiệm kỳ liên tiếp thắng thế. Ở Cambodia hiện nay có rất nhiều đảng phái tranh cử, nhưng chỉ 5 đảng phái lớn là có tiếng nói với dân chúng và có ghế trong quốc hội. Vì là một chính phủ đa nguyên như các nước phương Tây và Hoa Kỳ, cho nên, thay vì tham nhũng và độc tài như các nước châu Á quanh vùng theo cộng sản, thì chính phủ hiện nay phải công khai các phí dịch vụ làm giấy tờ hoặc trong mọi thủ tục hành chính công. Ví dụ, dùng xe hơi phải đóng thuế 800 đô la Mỹ mỗi năm cho sở thuế, nhưng đi xe hơi sai luật thì tự động tốn 2 đô la Mỹ cho cảnh sát giao thông, mà nghĩ rằng nó là phí phải nộp hay tiền hối lộ cho cảnh sát giao thông cũng được, vì tiền 2 đô la này không nộp vào kho bạc nhà nước, mà vào túi cảnh sát giao thông trực tiếp xử phạt người đi xe sai luật không có mảnh giấy biên nhận. Nhưng không vì thế mà cảnh sát giao thông lạm dụng quyền xử phạt, vì cảnh sát và quân đội không được quyền tham gia chính trị, các đảng phái khác đảng nhân dân cách mạng của ông Hunxen chỉ trích chính phủ, vì sao để cảnh sát lạm quyền. Ở quốc hội Cambodia, theo hiến pháp được quyền truất phế thủ tướng đương nhiệm bị bất tín nhiệm và bầu thủ tướng mới thuộc đảng phái khác trong thành viên quốc hội. Có lẽ nhờ vào thể chế đa nguyên, và tam quyền phân lập, nên Cambodia đã phát triển rất vững chắc sau chỉ 22 năm trở lại vương triều của hoàng tộc Norodom Sihanuck.


Nền kinh tế của Cambodia là một nền kinh tế thị trường tự do đúng nghĩa theo quy luật cung cầu. Giống các nước phương Tây và Hoa Kỳ về mọi mặt, nên cũng thì một lít xăng, dầu, nhưng ở 2 công ty xuất nhập khẩu khác nhau thì có giá bán khác nhau, nhưng không ai quan tâm đến mua ở nơi giá rẻ hơn. Toàn bộ nền kinh tế Cambodia là một nền kinh tế nhập khẩu hoàn toàn, hầu như xuất khẩu là con số không to tướng, nhưng hầu như chưa nghe thấy có sự thâm hụt ngân sách quốc gia vì những đầu tư công, hay vì tham nhũng. Vì hầu hết tất cả các lĩnh vực chính phủ Cambodia đều giao cho tư nhân quản lý, điều hành và đóng thuế cho chính phủ. Tiền đóng thuế đó sẽ được dùng để làm việc chính sách công và lo lương cho hệ thống công quyền.


Trong cùng một ngày 14/02/2013, nhưng 2 cây xăng ở Phnompenh của 2 đại lý Tela và Sokimex có giá xăng dầu chênh lệch khác nhau, song không ai vì thế mà phải tranh nhau mua giá rẻ hơn. vì nó là chuyện rất bình thường ở một nền kinh tế thị trường tự do như Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt nam trước 30/4/1975.


Hầu hết các khu vực kinh tế lớn của đất nước Cambodia được thầu bỡi các đại gia Hoa kiều và Việt kiều. Một ông Việt kiều giàu có nhất Cambodia có nguồn gốc là người Sóc Trăng. Ông là người tài trợ cho chính phủ ông Hunxen trong những ngày đầu thành lập quân đội để đánh lại chế độ cộng sản Khmer Đỏ diệt chủng Cambodia. Ông bao thầu rất nhiều lĩnh vực từ xuất nhập khẩu hầu hết các ngành nghề kể cả xăng dầu, vàng bạc, đến bất động sản và kể cả du lịch. Hiện Angkor Vat và Angkor Thum và toàn bộ rừng Angkor do ông thầu và khai thác, mỗi năm ông đóng cho chính phủ đương nhiệm 24 triệu đô la Mỹ. Trong khi đó, mỗi chiếc vé tham quan Angkor trong 1 ngày cho người lớn là 20 đô la, và trẻ em dưới 12 tuổi là 10 đô la Mỹ! Ước tính lượng du khách đến thăm Angkor hằng năm trên 3 triệu lượt người. Một con số khổng lồ ở một địa điểm du lịch cho ngành khai thác du lịch ở một đất nước chỉ 15 triệu dân. Kể cả bệnh viện Chợ Rẫy Phnompenh ở khu vực Chợ Chba Om Pau - Cầu Sài Gòn ở Phnompenh - ông này cũng là chủ đầu tư, hiện đang được xây dựng và đào tạo nhân lực.


Đạo Phật cũng góp phần không nhỏ cho nền kinh tế và an sinh xã hội Cambodia. Hằng năm đến ngày lễ lớn hoặc ngày tết truyền thống của người Khmer - vào khoảng tháng 3 âm lịch hằng năm do vua sãi quyết định theo việc chấm thiên văn - các đại gia kinh tài tư nhân trên đất nước Chùa Tháp thường làm lễ tạ ơn cho đất nước bằng việc đáp ứng lời kêu gọi của chính quyền như, đóng góp 1 ngôi trường học hoặc xây dựng một bệnh viện, hoặc xây dựng, tu bổ một con đường. Đất là thuộc sở hữu tư nhân hoàn toàn có luật người dân được sở hữu dưới lòng đất bao sâu và trên không bao cao tùy theo thành phố hay tỉnh có quy hoạch rõ ràng. Ví dụ, ở thành phố Siêm Riệp, khoảng không trên mãnh đất không được quá chốn linh thiêng của các đền Angkor, nên ở đây các khách sạn hầu hết chỉ trong khoảng đến 4 tầng lầu, mặc dù đền Angkor Wat cao đến 65 mét, nhưng các đền Angkor Thum thì ở khoảng dưới 20 mét cao.

Tên đường phố của Cambodia cũng rất khoa học theo cái cách mà chính phủ đặt ra. Ở Cambodia không có con đường nào mang tên của người như ở Việt Nam, mà chỉ mang tên số là vĩnh hằng. Còn tên người chỉ gắn vào con số tên đường chỉ để ghi nhớ công lao của người ấy đã tài trợ làm và bảo trì con đường ấy. Tại Phnompenh có 1 đại lộ 286 gắn với tên Mao Trạch Đông, nó được gọi là đại lộ 286 Mao Trạch Đông, vì Trung Hoa đã cung cấp tiền duy tu và bảo trì con đại lộ này. Nhưng đến một ngày nào đó, Trung Hoa không còn tài trợ để duy tu và bảo trì con đại lộ này thì nó sẽ trở lại tên đường là Đại lộ 286. Đường phố là của dân đi lại, nhưng vỉa hè là của chính phủ thu tiền đậu xe. Nên không có bất kỳ chủ nhân căn nhà mặt tiền nào được hoặc dám đuổi ai đó đậu xe trên vỉa hè trước cửa nhà mình. Trung tâm thành phố Siêm Riệp cũng có một Viện Nhi khoa không mất tiền khi đến đây khám chữa bệnh trẻ em dưới 15 tuổi do Thụy Điển tài trợ. Đó là một trong những cách mà chính quyền Cambodia làm nên nền kinh tế và an sinh xã hội tốt cho nước mình.

Đạo Phật cũng dạy cho người Khmer không có quan niệm kẻ thù đế quốc thực dân Pháp, Mỹ hay gọi Polpot là kẻ thù dân tộc ngụy quyền. Ở Cambodia, trong quan niện dân chúng chỉ có 2 mặt: thiện và ác, nhân và quả. Đêm đầu đến thành phố Siêm Riệp, với 25 đô la cho mỗi người lớn và 12,5 đô la cho trẻ em dưới 12 tuổi, chúng tôi đã được xem một vở đại hùng ca múa kịch sử thi mang tên "Angkor Smile" do nhà đạo diễn tài ba Trương Nghệ Mưu dàn dựng với trị giá 20 triệu đô la Mỹ. Tất cả vở đại hùng ca múa kịch sử thi này với hơn 300 con người diễn viên thực hiện suốt 70 phút đồng hồ kể lại lịch sử đế chế Khmer suốt hơn 1000 năm hình thành và phát triển, rồi lụi tàn cho đến hôm nay, vẫn một nụ cười đôn hậu vào quá khứ, hiện tại và tương lai, mà không một lời oán trách và chỉ mặt đặt tên kẻ thù, chỉ nhắc nhở con người hãy sống với nhau hiền hòa, trên đời này chỉ có kẻ thiện người ác là do nhân quả mà thành. Có lẽ vì thế mà đã có một sự hòa hợp hòa giải dân tộc Khmer và nhiều dân tộc khác sống ở Cambodia không hận thù, sau hơn 20 năm binh biến và nạn diệt chủng do Polpot gây ra, trong công cuộc hồi hương sau 23 năm lưu vong của Thái thượng hoàng Norodom Sihanuck.


Vở đại hùng ca múa kịch sử thi mang tên "Angkor Smile" do nhà đạo diễn tài ba Trương Nghệ Mưu dàn dựng với trị giá 20 triệu đô la Mỹ.


Suốt 3 đêm và 4 ngày trên đất nước Chùa Tháp, tôi luôn liên tưởng đến đất nước Cambodia về việc điều hành nền kinh tế làm sao mà đồng tiền không lạm phát, thậm chí ngày càng có giá trị hơn so với đồng tiền Việt của chúng ta, trong khi hầu hết nền kinh tế Cambodia là nền kinh tế nhập khẩu mà không có xuất khẩu và không sản xuất gì, ngoại trừ sản xuất nông sản hải sản để chủ yếu tự cung, tự cấp. Càng khó hiểu hơn khi tận mắt nhìn thấy hải quan cửa khẩu Cambodia thu tiền qua lại của dân mình mỗi đầu người 20 ngàn đồng tiền Việt không chứng từ sổ sách, để thị thực sớm, cho qua luôn cả xe và người mà không cần kiểm tra. Tức có nghĩa là tham nhũng ở Cambodia chắc chắn là nhiều hơn ở ta. Cách đây 22 năm, mình đến Cambodia giá đổi tiền Ria sang Việt là 4 đồng Việt ăn 1 đồng Ria, còn năm nay thì 5 đồng Việt mới đổi được 1 đồng Ria theo thị trường chợ đen!


Ngược lại với chính sách tận thu thuế phí ở Việt Nam, Cambodia lại có chính sách ưu đãi thuế nhập khẩu để biến thị trường nội địa trở thành thị trường hàng hóa giá rẻ, để dân chúng Cambodia tự do buôn bán kiếm lãi với hàng nhập khẩu từ khắp nơi trên thế giới. Một chiếc Lexus đời mới nguyên thùng chỉ bằng giá một nửa so với ở Việt Nam. Hầu hết dân Cambodia đều dùng hàng xịn của các nước phương Tây và tiên tiến. Mấy ngày ở đây tôi chỉ thấy đúng 1 chiếc xe hơi hiệu Kia của Hàn Quốc ở vùng nông thôn Kampong Cham. Ở Siêm Riệp và Phnompenh thì kiếm một chiếc xe hơi có xuất xứ từ Hàn Quốc để bán giá đồ cổ cũng không ra. Còn các hiệu thời trang hàng đầu thế giới như Gucci, Levis, ... giá rẻ chỉ bằng 25-30% tại Việt Nam!


Đêm cuối ở Phnompenh, mình đến thăm người bạn cùng học trường Y ngày xưa, cũng đã từng là người nếm mùi thuốc súng thời làm nhiệm vụ quốc tế lật đổ chế độ cộng sản do Saloth Sar - tên thật của Polpot - để gầy dựng nhà nước Cambodia ngày nay. Anh em cùng tâm sự, mình hỏi, anh có định về lại Việt Nam để sống không? Anh ấy bảo, sống ở đây không phải nhức đầu bỡi cơm áo gạo tiền, bỡi lạm phát kịch trần, bỡi tham nhũng và bỡi nỗi đau lòng dân oan bị quan chiếm đất, v.v... Ngược lại là đằng khác cậu à, đời sống ở đây rất yên bình, giống như thời Đệ Nhất Cộng hòa ở miền Nam, xe hơi của tớ đêm ngủ, cứ để ngoài đường chả ai thèm lấy, đừng nói đến mất trộm kiếng chiếu hậu, hay mất mặt nạ. Hơn nữa, nó cũng gần quê nhà, nếu nhớ quê thì chỉ cần một cuốc xe mấy giờ đồng hồ là đến quê nhà, tội dại gì phải về nước, để phải khổ tâm vì những việc không phải mình gây ra hả cậu? Cậu cứ nghĩ mà xem, dù Cambodia là một thể chế chính trị có cả phong kiến, tăng lữ quý tộc, mẫu hệ và cộng hòa tồn tại, nhưng quyền tự do dân chủ tối thiểu của dân không thua bất cứ xứ nào. Và suy cho cùng chế độ cộng sản nào cũng vậy, thà giết sạch như Polpot đối với dân Khmer mà còn đạo đức hơn cái kiểu để dân sống mà không ra sống như ở Việt Nam hiện tại. Suốt đêm mùng 4 âm lịch tết Quý Tỵ, tôi không chợp mắt được vì cứ phải nghĩ đến câu trả lời của bạn mình, nghĩ về Cambodia, về Miến Điện và nghĩ về nước Việt hiện nay.

BS. Hồ Hải

MỘT THOÁNG CAMBODIA (3)


Hai mươi hai năm trước, cũng vào mùa xuân, tôi có mặt ở Phnompenh, cũng là lúc ông Thái thượng hoàng Norodom Sihanuck chuẩn bị về Cambodia để xây dựng một xã hội hòa hợp hòa giải dân tộc dưới một chính quyền đa nguyên quân chủ lập hiến. Lúc ấy, lưu lại 9 tháng làm ăn sinh sống, đất nước Cambodia vừa trải qua một thời kỳ kinh hoàng diệt chủng của đảng cộng sản Khmer đỏ do Polpot cầm đầu. Con người hỗn loạn, xã hội còn mất an ninh, đêm đi đường không biết có toàn tính mạng dù giữa thủ đô của một nước. Cơ sở hạ tầng đổ nát, đường xá đầy hố bom. Các đảng phái tranh nhau mọc như nấm sau mưa. Ai cũng lo sợ một cuộc thanh trừng và có thể nội chiến giữa các đảng phái và phe nhóm, mà đặc biệt đứng đầu giữa 2 phe của chính quyền ông Hunxen và nhóm theo quốc vương sẽ trở về từ Trung Hoa lục địa sau 23 năm lưu vong. Mặc dù cuộc sống người dân Cambodia lúc này vẫn chảy đều, nhưng cũng lắm tiêu cực. Muốn có chứng minh nhân dân Cambodia lúc đó chỉ cần tốn 1000 Ria tương đương 4000 tiền Việt. Muốn có hộ khẩu chỉ cần tốn 5000 Ria tương đương 20.000 tiền Việt là có ngay trong ngày. Cái chết có thể đến ngay trong ban ngày giữa chợ bằng súng mà chính mắt tôi nhìn thấy. Tất cả trong một mối bòng bong sau một thảm họa.


Bây giờ, trở lại cũng là lúc ông Thái thượng hoàng vừa băng hà và vừa mới hỏa táng. Hoàng cung không được phép tham quan trọn vẹn. Mọi du khách chỉ được tham quan khu vực chùa Ngọc Bích - còn gọi là chùa Vàng Bạc - đường phố giăng đầy hình ảnh ông bọc dải tang đen. Nhưng, an ninh đã tốt hơn nhiều, đi ngày không phải lo lắng, đi đêm cũng rất an toàn, nhưng thủ đô Phnompenh đúng nghĩa là một thủ đô hành chánh khi đêm về chỉ khoảng 23h là hầu như đã vào giấc ngủ. Còn đối với thành phố Siêm Riệp đúng nghĩa là một thành phố du lịch và thương mại đầu tàu kinh tế quốc gia, nửa đêm vẫn còn khách vãng lai và sinh hoạt thương mại vẫn diễn ra.


Dù thế, đời sống một góc khuất vẫn hiện ra, tuy không nhiều như ở ta, nhưng đáng để quan tâm. Đó là hình ảnh của những người dân nghèo Khmer, và đặc biệt là dân nghèo Việt Nam. Các khu du lịch trên đất Khmer suốt 3 ngày tôi chỉ gặp đúng một gia đình với bà mẹ và 3 đứa con Khmer xin tiền. Không dày đặt như ở ta, những người ăn xin rất dễ thương trong cách xin và cách nhận với một cái lạy cúi rạp người và lời cảm ơn lơ ló tiếng Việt của người Khmer đói khổ. 


Song, khi đến tham quan làng người Việt nghèo trên biển Hồ thì một hình ảnh rất xấu diễn ra ở đây mà chúng tôi nói với nhau là, "thương hiệu cái bang Việt" đi đâu cũng thấy mà phát buồn. Chúng tôi được hướng dẫn viên giới thiệu, có một làng người Việt nghèo truyền kiếp từ thời trước 1975 vẫn cứ tồn tại trên những căn nhà nổi và trên những chiếc ghe vừa làm nhà, vừa làm phương tiện đánh cá trên biển Hồ Tonle Sap. Vài năm gần đây báo chí trong nước cũng ca ngợi ngôi trường dạy trẻ em nghèo trên biển Hồ này rất nhiều. Họ đáng thương, nên du khách cần tham quan, để có dịp kêu gọi giúp đỡ họ. Mỗi vé tham quan là 20 đô la Mỹ. Đã đi thì không thể bỏ, mà đặc biệt là người đồng bào mình làm sao bỏ được? Chúng tôi náo nức muốn làm cái gì đó cho đồng bào mình xa xứ nghèo khổ.


Một cháu trai xin tiền rất thông minh theo cách này, dù hơi ác cảm. Tốn 1000 Ria để chụp được hình cháu hoặc với con trăn.


Giữa trưa dưới cái nắng gắt 39 độ C, chúng tôi vẫn tranh thủ đi cho kịp lịch trình còn tham quan Naga World - một sòng bài lớn ở Phnompenh mà nhiều đại gia đình đám Việt đã phải tự tử vì nó - vào buổi chiều. Tâm trạng khi đi cứ nghĩ sẽ hết lòng với làng nghèo này. Nhưng trước khi đến trường trẻ em nghèo người Việt được UNESCO tài trợ từ hơn 5 năm qua, chúng tôi được uống nước dừa và ăn tép rang, thì đập vào mắt mình là một cháu xin ăn người Việt ôm trong lòng một con trăn lớn. Hình ảnh cháu không làm ai nghĩ cháu đi xin ăn, cứ nghĩ cháu là con chủ nhà hàng nổi trên biển Hồ. Nhưng lúc đang ăn uống thì cháu xuất hiện sau lưng mình với lời xin ăn, mọi người từ thương hại đến lo sợ con trăn mà cháu mang theo. Ác cảm từ lo lắng trở nên phòng thủ với "thương hiệu cái bang Việt".


Các cháu học sinh nghèo ở trường dạy tiếng Việt không tốn tiền của ông thầy Tư thành lập, bây giờ được một phần tài trợ của UNESCO?


Chúng tôi được đưa đến ngôi trường dạy tiếng Việt cho trẻ em nghèo trên biển Hồ. Cứ nghĩ sẽ đến để tìm hiểu, nhưng đến chưa đầy 5 phút là phải bỏ chạy lấy thân. Sự xuất hiện tàu du lịch của chúng tôi chưa đầy 1 phút thì hàng đàn ghe xuồng, thậm chí cả trẻ con bơi bằng chiếc thau giặt đồ vây quanh thuyền du lịch đông như kiến. Âm thanh kêu réo xin tiền, níu kéo khách du lịch như ong vỡ tổ. Một số người cử đại diện vào trường trao quà vì thấy trường chật hẹp. Một số ở lại trên thuyền bị bao vây sợ quá cũng nhảy theo lên trường để bớt bị níu kéo xin ăn. Tất cả diễn ra một hình ảnh không phải người đi tặng quà và kẻ nhận quà, mà là một sự hỗn độn đến mức khó tả. Cuối cùng có bao nhiêu quà và tiền lẻ chúng tôi vứt hết cho người Việt xin ăn và đại diện trường để thoát thân.


Trong khi đoàn du lịch thăm trường thì hàng đoàn thuyền người Việt bám thuyền du lịch để xin ăn.


Trên đường về, tôi suy nghĩ mãi, những người mà được các hướng dẫn viên du lịch mô tả rất đáng thương này có được để đáng thương không? Hơn 5 năm qua UNESCO tài trợ trường lớp, nhà thờ, khách du lịch và các đoàn ủng hộ, cộng thêm vào việc làm ăn sinh sống ở trên biển Hồ của họ thì họ có đáng để được gọi là nghèo theo kiểu này không? Hay là các công ty du lịch lợi dụng họ để khai thác kiếm tiền? Và họ thì lợi dụng du lịch để chỉ biết xin ăn mà không cần phải làm lụng vất vả? Tất cả đều có thể xảy ra trong bối cảnh người Việt hiện nay ở đâu cũng thấy.

Có một điều mà ai cũng tự hỏi, tại sao họ không về Việt nam sinh sống mà phải sống vất vưởn kiểu này? Vì họ không muốn về vì nhiều lý do, hay họ về mà không được tiếp nhận? Hay vì sống như thế này sướng hơn? Nhưng các câu hỏi không lấn át được một nỗi đau - nỗi đau của nước Việt ở thời đại "quanh vinh" - mà để dân mình bôi nhọ hình ảnh dân tộc mình ở xứ người thì không thể lãng quên.

Có thể cảm giác này của tôi và đoàn du lịch của chúng tôi đã từng diễn ra với nhiều đoàn đi trước, nhưng họ ngại sẽ phải viết ra. Nhưng không viết ra thì có tội với tổ tiên và đồng bào mình. Có thể có bạn cho rằng tôi ác độc khi viết ra. Nhưng họ, những "người nghèo Việt trên biển Hồ" cần một chính sách của nhà nước ta và nhà nước Cambodia liên kết nhau, bằng cách nào đó, để cho họ cái cần câu để kiếm cơm, chứ không thể để tồn tại mãi cách họ nhận cá cơm như thế này.

BS. Hồ Hải